CHƯƠNG 8: PHẦN GẤP ĐÔI
by Gary KeeseeCHƯƠNG 8
PHẦN GẤP ĐÔI
Bây giờ, tôi muốn đào sâu thêm chút nữa làm thể nào mà sự an nghỉ Sa-bát hoạt động trên thực tế và làm thế nào để sự an nghỉ Sa-bát tháp vào cuộc đời chúng ta. Tôi muốn quay trở lại với câu chuyện Năm Hân Hỉ và chúng ta cùng nhìn vào phân đoạn dưới đây. Chúng ta sẽ thấy lời giải đáp của Đức Chúa Trời dành cho dân sự khi họ hỏi Ngài làm sao họ sống nổi nếu không thu hoạch gì trong suốt ba năm. Họ hỏi hay đấy!
Có thể các con sẽ thắc mắc: “Nếu chúng tôi không gieo, không thu hoa lợi thì chúng tôi sẽ lấy gì mà ăn trong năm thứ bảy?” Năm thứ sáu Ta sẽ ban phước cho các con đến nỗi hoa lợi sẽ đủ cho ba năm. Năm thứ tám các con sẽ gieo và ăn hoa lợi của mùa màng cũ và tiếp tục ăn cho đến mùa màng mới của năm thứ chín.
— Lê-vi-ký 25:20-22
Chúng ta thấy phân đoạn này có nói đến Năm Hân Hỉ cũng như năm Sa-bát liền trước đó, rất có thể chứ vì mùa thu hoạch bội thu đã xảy đến nhằm năm thứ sáu, trong trường hợp này là năm thứ 48 (so với Năm Hân Hỉ). Nếu không có mùa thu hoạch bội thu thì sự nghỉ ngơi Sa-bát sẽ không thể khả thi. Hãy nhìn vào phân đoạn khác mà tôi tin rằng sẽ còn minh chứng rõ ràng hơn nữa.
Như thế, mỗi buổi sáng họ ra lượm bánh, mỗi người lượm theo sức mình ăn. Khi mặt trời nắng nóng thì vật đó tan ra.
Vào ngày thứ sáu, dân chúng lượm gấp đôi số bánh, mỗi người bốn lít. Các người lãnh đạo hội chúng đến trình cho Môi-se rõ. Ông nói: “Đây là lời Đức Giê-hô-va đã phán: ‘Ngày mai là ngày nghỉ, là ngày sa-bát thánh cho Đức Giê-hô-va, hãy nướng món gì anh em muốn nướng, hãy nấu món gì anh em muốn nấu, và những gì còn thừa, hãy để dành đến sáng mai.’” Vậy họ để dành đến sáng mai, như lời Môi-se đã truyền dạy, vật đó chẳng có mùi hôi thối và cũng không sinh sâu bọ. Môi-se nói: “Hôm nay, hãy ăn thức ăn đó vì là ngày sa-bát cho Đức Giê-hô-va. Hôm nay, anh em sẽ chẳng tìm thấy thức ăn ấy ngoài đồng đâu. Anh em lượm trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày sa-bát, sẽ chẳng có gì cả.”
Tuy vậy, vào ngày thứ bảy cũng có một vài người trong dân chúng đi ra lượm và họ chẳng tìm được gì hết. Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Các con không chịu vâng giữ điều răn và luật pháp Ta cho đến bao giờ? Hãy nhớ rằng Đức Giê-hô-va đã cho các con ngày sa-bát, vì thế vào ngày thứ sáu Ngài ban cho các con hai ngày bánh. Trong ngày thứ bảy, mỗi người phải ở yên chỗ mình, không ai được ra khỏi nhà.” Như vậy, vào ngày thứ bảy dân chúng được nghỉ ngơi.
— Xuất Ai Cập 16:21-30 (ma-na)
Dĩ nhiên phân đoạn này nói về ma-na rơi xuống từ trời mỗi ngày để nuôi dân sự và phân đoạn này mô tả rằng ma-na sẽ không rơi xuống vào ngày thứ bảy là ngày Sa-bát. Họ không thể thâu trữ mỗi ngày vì nó sẽ bị hư đi nhanh chóng. Chỉ có ngày thứ sáu là họ có thể lượm và cất qua đêm và không bị hư. Có một điểm rất thú vị liên quan đến lý do tại sao ma-na bị hư nhanh được tìm thấy trong Phục Truyền 8:16.
Trong hoang mạc Ngài cho anh em ăn ma-na, thức ăn mà tổ phụ anh em chưa từng biết, cho anh em nếm trải đói khổ và thử thách để cuối cùng ban phước hạnh cho anh em.
Đức Chúa Trời đang huấn luyện dân tộc này không những biết tìm kiếm Ngài mỗi ngày cho lương thực họ cần mà còn trong mọi điều họ cần cho cuộc sống của họ nữa. Đức Chúa Trời biết họ đang dần tiến đến một tương lai không chỉ cần được đáp ứng về lương thực mà thôi; Sớm thôi họ sẽ đối diện với các thành có tường cao hào sâu và nhiều nhóm dân giềnh giàng. Sự lệ thuộc kiên định vào Ngài ở nơi họ trong hoàn cảnh như vậy sẽ rất khác biệt, vì đó là giữa sự sống và cái chết.
Hãy cùng trở lại với Xuất Ai Cập 16:29. Tại đây, bạn có thể thấy rõ rằng sự nghỉ ngơi Sa-bát chỉ có thể khả thi khi họ nhận được phần gấp đôi vào ngày thứ sáu mà thôi.
Hãy nhớ rằng Đức Giê-hô-va đã cho các con ngày sa-bát, vì thế vào ngày thứ sáu Ngài ban cho các con hai ngày bánh. Trong ngày thứ bảy, mỗi người phải ở yên chỗ mình, không ai được ra khỏi nhà.”
Bạn có thấy không? Sự nghỉ ngơi Sa-bát chỉ có thể khả thi qua phần gấp đôi mà thôi. Đây là điều quan trọng đến nỗi tôi cần bạn phải ghi chép nó xuống.
SỰ NGHỈ NGƠI SA-BÁT LÀ BẤT KHẢ THI NẾU KHÔNG NHẬN ĐƯỢC PHẦN GẤP ĐÔI!
Hãy để tôi đặt điều này vào trong một bối cảnh khác. Trừ khi bạn có dư, nếu không bạn sẽ chẳng bao giờ nghỉ ngơi khỏi việc chạy vắt chân lên cổ cùng hệ thống rủa sả của thế gian về sự lao nhọc đâu. Bất cứ nơi đâu Drenda và tôi đi, chúng tôi cũng đều nói với mọi người rằng “Trừ khi bạn chấn chỉnh lại tiền bạc, nếu không bạn sẽ không bao giờ khám phá ra được vận mệnh của mình đâu!” Tại sao? Vì nếu không có dư dật, bạn sẽ không có nhiều sự lựa chọn và bạn sẽ bị nô lệ trong cảnh sống sinh tồn suốt đời. Hãy nhớ lúc chúng tôi đọc được những quyền lợi của Phước Hạnh Áp-ra-ham trong Phục Truyền 28:11-13 ở chương trước. Rõ ràng chúng ta thấy cuộc sống thiếu thốn, chỉ để sinh tồn không phải là vận mệnh của bạn đâu! Trong trường hợp nếu bạn quên, chúng ta sẽ xem lại phân đoạn này một lần nữa!
Đức Giê-hô-va sẽ làm cho anh em thịnh vượng, bông trái của thân thể anh em, bầy con của đàn gia súc, hoa quả của đất ruộng anh em sẽ được dồi dào trong xứ mà Ngài sẽ ban cho anh em theo lời thề với các tổ phụ.
Đức Giê-hô-va sẽ mở kho báu từ trời của Ngài cho anh em, ban mưa đúng mùa trên đất đai anh em và ban phước cho mọi công việc của tay anh em. Anh em sẽ cho nhiều dân tộc vay nhưng anh em không vay mượn ai cả. Đức Giê-hô-va sẽ đặt anh em đứng đầu chứ không phải đứng chót, anh em sẽ luôn ở trên chóp chứ không ở dưới đáy.
— Phục Truyền 28:11-13
Nghèo đói, sinh tồn, phá sản không phải là thiên mệnh của bạn. Bạn là người cho vay chứ không đi vay mượn, là đằng đầu chứ không phải đằng đuôi! Sự dư dật này là kiểu của Vương quốc. Đó là sự nghỉ ngơi Sa-bát, dư dật, hưởng phần gấp đôi!
Tôi biết bạn đang nghĩ gì, “Ồ, điều này nghe hay đấy, ông Gary, nhưng cuộc đời tôi bây giờ trông chẳng có gì giống như vậy cả.” Sẽ ổn thôi mà, chúng ta không nhìn lại đằng sau nữa, thay vào đó chúng ta hướng về những gì Chúa phán và mong đợi những gì Vương quốc nói về chúng ta. Nếu không có một bức tranh đúng đắn, nếu không biết cuộc đời chúng ta đúng ra phải như thế nào thì chúng ta sẽ bị rơi vào những cạm bẫy và lừa dối cùng sự đảo ngược tư duy của hệ thống rủa sả thế gian mất thôi. Đức tin là cứ hiệp nhất với những gì Đức Chúa Trời phán chứ không phải hoàn cảnh của chúng ta phán.
Trước khi chia sẻ với bạn làm thế nào Đức Chúa Trời dạy Drenda và tôi biết về phần gấp đôi này, tôi muốn kể cho bạn nghe một câu chuyện mà tôi tin đây là câu chuyện nói về phần gấp đôi vĩ đại nhất trong Tân Ước.
Câu chuyện tôi muốn kể với bạn là câu chuyện bạn nghe không dưới đôi lần nhưng có lẽ bạn chưa từng nghe nó với bối cảnh hưởng phần gấp đôi hay cùng với sự hiểu biết về Vương quốc như lúc này đâu. Chúng ta tìm thấy câu chuyện này trong Lu-ca đoạn 15, câu chuyện về cậu con trai hoang đàng. Một lần nữa, hãy ở lại đây cùng tôi nhé! Tôi biết bạn đã đọc câu chuyện này trước đó rồi nhưng hãy đọc lại toàn bộ câu chuyện này bằng sự hiểu biết tươi mới.
Ngài lại kể tiếp: “Một người kia có hai con trai. Người em nói với cha: ‘Thưa cha, xin chia cho con phần tài sản thuộc về con.’ Và người cha đã chia gia tài cho chúng. Chẳng bao lâu, người em tóm thu hết của cải và đi đến một nơi xa; ở đó, nó ăn chơi phóng đãng, phung phí tài sản mình. Khi đã tiêu sạch của rồi, trong xứ xảy ra một nạn đói lớn và nó bắt đầu lâm vào cảnh túng thiếu. Nó phải đi làm mướn cho một người dân bản xứ và bị sai ra đồng chăn heo. Nó ước ao lấy vỏ đậu của heo ăn mà ăn cho no nhưng chẳng ai cho.
Bấy giờ nó mới tỉnh ngộ, tự nhủ: ‘Biết bao nhiêu người làm mướn cho cha ta được ăn bánh dư dật mà ở đây ta phải chết đói! Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha và thưa với cha: Cha ơi, con đã phạm tội với trời và với cha, không xứng đáng gọi là con của cha nữa. Xin cha xem con như người làm thuê của cha vậy.’ Nó liền đứng dậy, trở về với cha mình.
Nhưng khi còn ở đàng xa, người cha thấy nó thì động lòng thương xót, chạy ra ôm lấy cổ nó mà hôn. Người con thưa với cha: ‘Cha ơi, con đã phạm tội với trời và với cha, chẳng còn xứng đáng gọi là con của cha nữa.’
Nhưng người cha bảo các đầy tớ: ‘Hãy mau lấy áo tốt nhất mặc cho nó, đeo nhẫn vào tay, mang giày vào chân. Hãy bắt con bê mập làm thịt. Chúng ta hãy ăn mừng! Vì con ta đây đã chết mà bây giờ lại sống, đã mất mà bây giờ tìm lại được.’ Rồi họ bắt đầu ăn mừng.
Bấy giờ, người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng đàn ca nhảy múa, anh ta gọi một đầy tớ mà hỏi xem có việc gì. Đầy tớ thưa: ‘Em cậu đã trở về và cha cậu đã làm thịt con bê mập, vì ông thấy cậu ấy về được mạnh khỏe.’ Người con cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Người cha đi ra và khuyên dỗ chàng. Nhưng anh thưa với cha: ‘Cha xem, đã bao nhiêu năm con phục vụ cha, chưa từng trái lệnh cha, mà cha chẳng bao giờ cho con một con dê con để chung vui với bạn hữu. Nhưng khi đứa con kia của cha, là đứa đã phung phí hết tài sản của cha với gái mại dâm rồi trở về thì cha lại làm thịt con bê mập ăn mừng!’
Người cha đáp: ‘Con ơi, con luôn luôn ở với cha, tất cả của cha là của con. Nhưng đáng phải dọn tiệc và vui mừng, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay tìm lại được.’”
— Lu-ca 15:11-32
ĐỨC TIN LÀ CỨ HIỆP NHẤT VỚI NHỮNG GÌ ĐỨC CHÚA TRỜI PHÁN CHỨ KHÔNG PHẢI HOÀN CẢNH CỦA CHÚNG TA PHÁN.
Trong câu chuyện này, chúng ta thấy cậu con trai út rời khỏi nhà với gia tài được chia cho mình. Đây là chi tiết quan trọng của câu chuyện vì nó nhắc đến chuyện cậu được hưởng quyền thừa kế. Vì thế hãy ghi chú lại là cậu con út này đã nhận được phần gia tài của mình rồi nhé! Cậu ta không được đòi hỏi gì về phần gia tài nữa.
Người em nói với cha: “Thưa cha, xin chia cho con phần tài sản thuộc về con.” Và người cha đã chia gia tài cho chúng.
Tiếp theo, câu chuyện kể cho chúng ta rằng cậu con út ra đi: đi đến một đất nước xa xôi khác. Điều quan trọng bạn cần hiểu ở đây là cậu con út đã rời khỏi nhà cha mình, ngụ ý rằng cậu ta bỏ lại đằng sau sự cung ứng, sự bảo vệ, luật lệ trong đất nước mà cả gia đình cậu đang sống đó. Cậu ta đi đến một đất nước xa xôi, là đất nước có luật lệ khác, cách sống khác với đất nước của cậu. Tôi chắc rằng chàng trai trẻ này thực sự không biết điều mình đang làm. Lúc sống trong nhà cha, cậu tận hưởng cuộc sống của một người con trai. Tất cả những gì cha cậu có, cậu cũng có lúc còn ở đó. Nhưng vì nhiều lý do, cậu cảm thấy cậu đang bỏ lỡ điều gì đó mà cậu cho rằng họ đang lừa cậu để khiến cậu phải bỏ lỡ nhiều cơ hội ở một nơi nào đó.
Nếu bạn chưa hiểu điều này, thì trên thực tế, Chúa Giê-su đang kể cho chúng ta nghe câu chuyện của nhân loại, câu chuyện của A-đam. A-đam là cậu con út trong câu chuyện này, là người đã rời bỏ nhà Cha mình. A-đam là người cảm thấy lẽ ra mình đã có tương lai tốt hơn ở đâu đó khác hơn là cứ tiếp tục phục vụ Đức Chúa Trời, là Cha mình. Tôi biết bạn đang nghĩ gì nhé, “Ờ thì, nếu A-đam là con út thì ai là con cả trong câu chuyện này vậy?”, có đúng không? Tôi sẽ nói tiếp về câu hỏi này ở cuối phần thảo luận này, còn bây giờ, chúng ta chỉ cần nhớ rằng A-đam là cậu con út bỏ nhà ra đi.
Mặc dầu họ có mọi thứ, nhưng A-đam và Ê-va đã quyết định tin rằng có một nơi nào đó tốt hơn ngoài nhà Cha mình. Khi A-đam nổi loạn chống nghịch lại nhà Cha và chọn cách bỏ đi, ông đến với một nhà nước mới, một vương quốc mới với sự thi hành luật pháp mới. Kinh Thánh gọi đó là vương quốc bóng tối, được cai trị bởi Sa-tan. Tôi chắc rằng A-đam bị sốc lắm vì sự nghèo đói và tuyệt vọng ở vương quốc mới này. Thoạt đầu, mọi thứ dường như rất tuyệt. Chừng nào tiền vẫn còn rủng rỉnh thì chừng ấy cuộc sống vẫn là bữa tiệc lớn! Nhưng khi ông nhận ra được sai lầm mình đã phạm thì mọi chuyện đã quá trễ. Rồi thì gia tài tiêu tán hết, ông mới phát hiện ra mình đã mất tất cả. Tâm trí của ông đã từng đầy ắp khải tượng thì lúc bấy giờ ông phải tập trung lo kiếm miếng cơm sống qua ngày. Không có gì cho ngày mai cả. Sẽ luôn là cho ngày hôm nay và ngày hôm nay thì chưa biết chắc được điều cả.
Chẳng bao lâu, người em tóm thu hết của cải và đi đến một nơi xa; ở đó, nó ăn chơi phóng đãng, phung phí tài sản mình.
Bấy giờ người con út mới phát hiện ra vương quốc này hoàn toàn sụp đổ, một vương quốc tồn tại trong tình trạng đói khổ triền miên. Cậu con út này bị thu hút với những gì cậu nhìn thấy – mọi người đang sắp chết đói. Vốn xuất thân từ gia đình giàu có, đầu óc chàng khó tiếp nhận những gì chàng thấy. Nhưng cái đó đói cồn cào xé rách bụng dạ chàng đang nhắc nhở cho chàng biết rằng cái chàng nhìn thấy đó là hiện thực. Để sinh tồn, bây giờ cậu buộc phải ăn xin trên đường. Trong vương quốc của bóng tối này, đất chỉ sinh ra gai góc và tật lê, đó là tất cả những gì đất sinh sản cho nên sự lao nhọc, đổ mồ hôi là điều không thể thiếu. Đang cùng khốn, cậu con út van xin người ta giúp đỡ cậu. Nhưng tất cả đều chung thuyền. Không ai cho cậu cái gì nhiều nhặn cả vì họ cũng đang kinh qua cơn đại hạn giống như chàng đang chịu vậy.
Giây phút quyết định sắp xảy ra cho chàng trai trẻ ở đây là một cú huých đổi đời ảnh hưởng đến cả bạn và tôi và toàn thể nhân loại. Lần đầu tiên trong đời, cậu con út van xin được trả công như một đầy tớ, là người lao động được thuê mướn. Đây là sự đảo ngược hoàn toàn nhân dạng thật sự của cậu cũng như bản chất thật của con người cậu. Cậu không còn là đứa con của cha mình, một người có thanh thế, giàu có và được tôn trọng mà bấy giờ cậu là người trông nom nhà cửa cho chủ hoặc là một nhân viên mua bán bất động sản hoặc là một người đưa thư và có thể là bất kỳ ai trong hàng tá công việc và ngành nghề. Bấy giờ cậu được nhận biết qua công việc cậu làm chứ không phải qua nhân dạng con người cậu! Cậu đã đánh mất đi nhân dạng của mình! Để làm nổi bật sâu xa hơn nữa cái mất mát về nhân dạng của cậu, Chúa Giê-su nói vì quá cùng cực đến đỗi cậu xin đi chăn heo. Heo được xem là loài ô uế đối với người Do Thái và Chúa Giê-su nói với đám đông rằng cậu con út này bây giờ vì quá cùng cực đến nỗi không còn thấy được bất kỳ mục đích nào trong cuộc đời chàng đã đang sống cả. Bấy giờ cậu sống trong tủi hổ và nhục nhã ê chề. Thời huy hoàng cậu đã từng sung sướng bây giờ chỉ còn là ký ức xa xăm.
Khi đã tiêu sạch của rồi, trong xứ xảy ra một nạn đói lớn và nó bắt đầu lâm vào cảnh túng thiếu. Nó phải đi làm mướn cho một người dân bản xứ và bị sai ra đồng chăn heo. Nó ước ao lấy vỏ đậu của heo ăn mà ăn cho no nhưng chẳng ai cho.
Tôi hi vọng bạn nhìn thấy được sự tương tự giữa câu chuyện này với câu chuyện của nhân loại ngày nay. Khi hai người đàn ông gặp nhau, họ sẽ nói gì? “Anh đang làm công việc gì để kiếm sống vậy?” hoặc “Anh làm ở đâu?” hoặc “Nghề nghiệp của anh là gì?” Khi bạn hỏi ai đó về chính con người thật sự của họ thì họ thường trả lời bạn bằng công việc họ làm. Tại sao vậy? Vì trong hệ thống rủa sả của thế gian, tất cả chúng ta đều đánh mất nhân dạng của mình, và chúng ta cực kỳ khổ sở trong việc đi tìm kiếm nó. Chúng ta sao chép bất kỳ ai thu hút sự chú ý của chúng ta và dường như chúng ta cho đó mới là quan trọng. Tất cả những cái này ập đến kể từ quyết định rời khỏi nhà Cha của A-đam. Trong tư duy sinh tồn, chúng ta mất đi cái nhìn về bản chất con người đích thực của chúng ta. Nhưng thật khích lệ ở chỗ cậu con trai út trong câu chuyện này không quyết định ở lại luôn trong chuồng heo; và khi chúng ta theo dõi câu chuyện, tôi hi vọng bạn thấy được một điều rằng bạn cũng không cần phải ở lại trong chuồng heo ấy.
Kinh Thánh nói có một ngày, cậu con út này đi đến chỗ nhận thức được và nhớ lại được nhà cha cậu là nơi mà dù có là tôi tớ thì cũng được đối xử tốt lắm. Tôi có thể hình dung trạng thái đói cồn cào, đói xé nát tâm can khi cậu nhớ lại những bữa ăn ngon tuyệt vời cậu từng được thưởng thức. Chú Harold của tôi từng là nhân viên đạo hàng vô tuyến B17- trong suốt Thế Chiến II. Chú xuất thân nghề nông và sống trong cộng đồng nông dân. Chúa Nhật nào cũng vậy, nội tôi cũng sẽ dọn bữa ăn thịnh soạn toàn thịt gà chiên, khoai tây nghiền và bánh mì nhà làm, đậu xanh và nhiều món ăn từ rau củ quả khác. Dĩ nhiên, lúc nào cũng có những chiếc bánh pie nhà làm hoặc bánh tráng miệng. Tôi biết rõ những bữa ăn này ngon khủng khiếp cỡ nào vì mẹ của chú chính là bà nội của tôi mà.
Máy bay của chú tôi bị bắn rơi trên bầu trời nước Đức trong một trận chiến và chú tôi phải trải qua nhiều tháng sống trong trại tù nhân của Đức. Đồ ăn thì ôi thôi, không tin được là chúng có thể tồn tại trên đời này. Một ngày nọ, tôi hỏi chú tôi rằng làm sao chú có thể sống nổi trong những ngày đó và chú nói với tôi rằng tất cả những gì chú có thể nghĩ được đó là một ngày nào đó chú lại có thể trở về nhà, lại có thể được ăn món gà chiên và khoai tây nghiền của nội. Tôi đoán chắc rằng cậu con út này cũng có cùng kinh nghiệm như vậy và cũng nhận thức được mình đã bỏ lỡ điều gì. Nhưng cậu thì không còn gia sản nào nữa rồi, cậu đã nhận đủ mọi gia tài mà cha cậu chia cho cậu rồi. Cho nên, cậu nghĩ ra một kế hoạch. Cậu sẽ trở về nhà và xin cha cậu mướn cậu như mướn một người tôi tớ. Trong đầu cậu đó là làm việc như một người làm thuê, thuê mướn là sự lựa chọn duy nhất của cậu.
Bấy giờ nó mới tỉnh ngộ, tự nhủ: ‘Biết bao nhiêu người làm mướn cho cha ta được ăn bánh dư dật mà ở đây ta phải chết đói! Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha và thưa với cha: Cha ơi, con đã phạm tội với trời và với cha, không xứng đáng gọi là con của cha nữa. Xin cha xem con như người làm thuê của cha vậy.’
Cho nên cậu trở dậy về nhà cha với kế hoạch này và cậu sẽ xin cha cậu cho cậu một cơ hội ít nhất là cơ hội được làm việc để đổi lại chỗ ngủ qua đêm và có đồ ăn là được rồi. Nhưng Kinh Thánh kể cho chúng ta một kết quả vô cùng kinh ngạc trong câu chuyện này. Khi cậu gần về đến nhà thì cha cậu nhìn thấy cậu từ xa xa và đã chạy lại để đón cậu và ôm cậu vào lòng. Ở điểm này thôi thì câu chuyện này cũng nên được gọi là câu chuyện về tình yêu thương của người Cha vì cha cậu đã ôm chầm lấy cậu dù người cậu đang bốc mùi hôi thối của bầy heo. Khi kể về tình tiết ôm hôn của người cha này, các khán thính giả của Chúa Giê-su biết ngay cái ôm này là cái ôm sẽ khiến cho người cha bị ô uế về tâm linh. Nhưng người cha vẫn sẵn lòng trở nên ô uế thay cho đứa con út của mình.
Rồi người cha cho gọi người mặc áo đẹp nhất, tốt nhất, quý nhất cho cậu để che phủ đi sự tồi tàn của cậu. Rồi người cha tháo nhẫn của mình ra là chiếc nhẫn đại diện cho thẩm quyền và đeo nó vào tay của cậu. Người cha còn tháo giày để mang cho cậu ngầm chỉ ra rằng một lần nữa cậu có quyền thừa kế toàn bộ gia sản. Nhưng thứ cuối cùng cha cậu trao cho cậu đã khiến cho người anh nổi giận phừng phừng. Người cha sai người chuẩn bị yến tiệc thết đãi cậu là con bò mập mạp, béo tốt để ăn mừng cho sự trở về của cậu. Mặc dầu bất xứng nhưng cậu con út đã được nhận lại địa vị và quyền lợi của một người con, được tự do, được tôn trọng với địa vị làm con và hoàn toàn được phục hồi với địa vị trước đây khi là con sống trong nhà cha.
Được rồi, thế thì toàn bộ những điều này có liên quan gì đến việc hưởng phần gấp đôi? Liên quan đến mọi thứ luôn đấy bạn của tôi. Chúa Giê-su đã dùng câu chuyện chàng trai trẻ bỏ nhà cha ra đi và sau quay trở về lại vì khán thính giả của Ngài, văn hoá của người Do Thái sẽ hiểu được hàm ý của câu chuyện này cũng như điều tôi sắp kể với bạn đây. Đối với văn hoá Do Thái, con trưởng nam sẽ mặc định nhận được phần gấp đôi. Nếu bạn nhớ lại, bạn sẽ thấy người con cả không rời khỏi nhà mà chính người con út mới là đứa bỏ nhà đi rồi sau trở về lại. Bạn cũng sẽ nhớ khi cậu bỏ đi, cậu đem theo toàn bộ phần gia tài cha cậu chia cho cậu, đó là phần thừa kế hợp pháp của cậu, cho cậu. Rồi sau đó cậu không còn quyền gì hay còn bất cứ thứ gì còn lại trong nhà cha cậu cả. Nhưng khi cậu quay trở về nhà cha thì cha cậu tái công nhận quyền làm con của cậu và đặc biệt hơn, cha cậu cho giết con bò béo tốt để thết đãi chuyện cậu út trở về nhà nên mới làm cho người con cả nổi giận phừng phừng. Trong tâm trí của người con cả, con bò này thuộc về chàng vì đây là một phần trong phần gia tài của cậu.
Cho nên đây mới là vấn đề. Mặc dầu người em trai đã nhận phần thừa kế của mình rồi mà khi cậu được tái công nhận quyền làm con thì bấy giờ cậu được hưởng phần thứ hai. Điều này có nghĩa thực chất cậu nhận đến hai phần gia tài lận. Từ góc độ của người anh, điều này là sự bất công, và trong cơn tức giận, chàng ta đã nói vậy với cha mình. Cậu công bố rằng cậu đã tận tuỵ làm cho cha suốt bao nhiêu năm trời, còn cậu em không làm gì cả, ngược lại còn bôi tro trét trấu lên cả gia đình. Vậy tại sao cậu em lại nhận được gấp đôi?
Vậy có công bằng không? Từ góc độ của hệ thống rủa sả của thế gian về sự lao nhọc và đổ mồ hôi, ai trong chúng ta cũng sẽ trả lời là không công bằng. Chúng ta sẽ đứng về phía người anh tận tuỵ, trung thành làm việc và có thể công bố rằng quá bất công sau tất cả những gì cậu con cả đã làm cho cha mình. Nhưng dựa vào những cơ sở nào mà chúng ta nói rằng điều này là công bằng? Không phải người cha tra xét và quyết định ai là người mình muốn ban ân huệ sao? Với hệ thống rủa sả của thế gian huấn luyện chúng ta như vậy nên chúng ta bị buộc phải nghĩ rằng nếu người cha cho cậu em thêm một phần gia tài nữa thì người anh chẳng còn lại là bao. Nhưng chuyện này không phải vậy. Người cha này giàu đến nỗi thậm chí có làm đầy tớ của ông thôi thì cũng có dư rồi. Huống gì đối với con cái của ông thì còn nhiều biết là bao nhiêu nữa.
Sa-tan không muốn bạn biết Đức Chúa Trời của bạn vĩ đại như thế nào hoặc thực chất con người bạn là ai đâu. Hắn luôn nói dối về Cha chúng ta ngay từ ban đầu rồi. Chính sách bảo hiểm nói rằng khi thảm hoạ thình lình ập đến thì đó là hành động của Đức Chúa Trời. Tổ chức tôn giáo thì nói rằng theo Chúa là phải nghèo. Mọi người thì nói Đức Chúa Trời khiến người tốt gặp nhiều điều xấu. Sa-tan sẽ làm cho bạn bị mù loà về con người thực sự của bạn cũng như Cha bạn vĩ đại như thế nào để bạn không đến được chỗ nhận thức hoặc trở về lại với Ngài bằng tất cả tấm lòng bạn. Tôi cam đoan với bạn rằng khi bạn trở về lại với Ngài, bạn cũng sẽ có cùng một sự thết đãi để chào mừng bạn trở về lại với nhà Ngài như cậu con út trong câu chuyện này vậy.
Bạn sẽ hỏi rằng “Thế cậu con cả này là ai vậy?” Để xem bạn có thể tìm được điều gì nào.
Bấy giờ, người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng đàn ca nhảy múa, anh ta gọi một đầy tớ mà hỏi xem có việc gì. Đầy tớ thưa: ‘Em cậu đã trở về và cha cậu đã làm thịt con bê mập, vì ông thấy cậu ấy về được mạnh khỏe.’ Người con cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Người cha đi ra và khuyên dỗ chàng. Nhưng anh thưa với cha: ‘Cha xem, đã bao nhiêu năm con phục vụ cha, chưa từng trái lệnh cha, mà cha chẳng bao giờ cho con một con dê con để chung vui với bạn hữu. Nhưng khi đứa con kia của cha, là đứa đã phung phí hết tài sản của cha với gái mại dâm rồi trở về thì cha lại làm thịt con bê mập ăn mừng!’
Người cha đáp: ‘Con ơi, con luôn luôn ở với cha, tất cả của cha là của con. Nhưng đáng phải dọn tiệc và vui mừng, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay tìm lại được.’
SA-TAN KHÔNG MUỐN BẠN BIẾT ĐỨC CHÚA TRỜI VĨ ĐẠI NHƯ THẾ NÀO HOẶC THỰC CHẤT CON NGƯỜI BẠN LÀ AI.
Cậu con cả nói rằng cậu làm việc cho nhà cha mình như một nô lệ suốt bao nhiêu năm tháng nay, tuy nhiên, trong suốt quãng thời gian này, cậu chưa từng một lần được cha cho một dê non nào để mà tổ chức yến tiệc với bạn bè. Hãy để tôi giải thích điều chàng ta đang nói. “Cha, cha thật không công bằng!” Nhưng hãy để ý câu hồi đáp của người cha. “Con ơi, con luôn luôn ở với cha, TẤT CẢ CỦA CHA là của con.” Dừng lại ở đây!!!
Bây giờ, bạn có thể đoán biết người con cả này là ai chưa? Người con cả này quá bận rộn làm nô lệ cho cha với một khái niệm sai lầm về sự tự xưng công chính để thực sự vui hưởng sự nhân từ của cha cậu. Bạn đúng rồi đấy, người con cả này đại diện cho luật pháp của giao ước thứ nhất. Người con cả có thể không bao giờ tận hưởng được những quyền lợi khi ở trong nhà cha cậu vì cậu quá bận rộn lao động để được cha chấp nhận. Mặc dầu cậu con cả có quyền hưởng gấp đôi nhưng chỉ có duy nhất cậu con út mới là người thực sự tận hưởng nó.
Bạn là người con út đấy!
Bạn có phần gấp đôi. Bạn là con và bạn được nhận không phải vì những gì bạn làm mà là vì địa vị của bạn trong Đấng Christ – đó là địa vị làm con trai, con gái của Đức Chúa Trời, được tận hưởng gia tài mà bạn không phải lao nhọc song bạn được nhận cách miễn phí từ Cha của bạn.

0 Comments