Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ

Chương 1: Từ Tối Qua Sáng

trước
tiếp

TIN LÀNH đã được truyền giảng tại Đà Nẵng từ năm 1911. Nhưng lúc bấy giờ mọi người trong gia đình chúng tôi đều ở trong sự TỐI TĂM đúng như lời Kinh Thánh đã chép: “Sự sáng đã soi trong tối tăm, song tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng”(Gi 1:5).

Chúng tôi không quan tâm đến Chân lý của Lời Sự Sống. Nhưng thật ra đó không phải là quan niệm riêng của chúng tới mà là khuynh hướng chung của tất cả mọi người trong mọi thời đại – điều mà Kinh Thánh đã dự ngôn từ ngàn xưa: “Thế gian đã làm nên bởi Ngài, nhưng thế gian chẳng từng nhận biết Ngài, Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy”(Gi 1:10,11). Lý do của sự khước từ ấy cũng đã được Kinh Thánh giải bày minh bạch: “Sự sáng đã đến thế gian mà người ta ưa sự tối tăm hơn sự sáng vì việc làm của họ là xấu xa” (Gi 3:19).

Về sau, khi đã trở nên môn đồ của Chúa, tôi mới có dịp suy nghĩ – hậu quả việc làm của gia đình tôi lúc bấy giờ chẳng qua chỉ là một chiếc áo nhơ nhớp ở trước mặt Chúa mà thôi.

  1. GIAI ĐOẠN CHỐNG ĐỐI CƠ ĐỐC GIÁO

Năm 1914 chiến tranh giữa Đức và Pháp bùng nổ. Người Pháp không muốn cho người Mỹ ở Đông Dương, nên các Giáo sĩ phải bán lại vật liệu xây cất để về đất nước. Nhờ đó tôi có dịp giao thiệp với họ để mua các vật liệu ấy về xây cất nhà. Tình hình chiến sự ngày càng khẩn trương, nên nhằm đề phòng mọi mưu toan khuynh đảo – khoảng tháng 12 năm 1915, toàn quyền Đông Pháp ở Hà Nội cho ban hàng Sắc lệnh cấm chỉ việc truyền bá Gia-tô giáo tại Đông Dương.

Bởi giao thiệp với các Giáo sĩ và đọc được những sách báo của các nhà Truyền giáo, tôi được biết từ ngữ Gia-tô Cơ Đốc là JÊSUS CHRIST – tên của vị Chúa mà các Giáo hội Thiên Chúa đang thờ phượng hết sức cung kính. Khi đã phối kiểm và đã biết chắc được điều đó là đúng, thì lòng căm thù của tôi đối với Cơ Đốc giáo lại càng gia tăng bội phần.

Lý do của sự căm thù nầy là vì một vài biến cố lịch sử hàm chứa những sắc thái chính trị lẫn tôn giáo xảy đến cho gia đình chúng tôi. Theo lời ông thân tôi kể lại thì đêm 4-7-1885 tức 22-5 năm Ất Dậu, sau khi kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi phải chạy ra Cam Lộ, Quảng Trị. Một số người theo vua, một số người phải bỏ kinh thành đi lánh nạn. Trong số người rời bỏ kinh thành đi lánh nạn. Trong số người rời bỏ kinh thành Huế có gia đình chúng tôi.

Ông thân tôi đưa người mẹ già (tức bà nội tôi) vào tá túc trong nhà thờ Phú Cam (Huế) gần 6 tháng. Sau đó lại đưa bà vào Đà Nẵng tìm người chị bị lưu đày biệt xứ bởi tội gia đình làm cách mạng trong đời vua Tự Đức.

Ngần ấy sự kiện, nào là chuyện kinh thành Huế thất thủ nào là chuyện tá túc trong nhà thờ Phú Cam, nào là chuyện có người trong gia đình làm cách mạng thời Tự Đức phải bị phân thây hoặc bị tù đày biệt xứ gây cho tôi lòng căm thù Cơ Đốc giáo không tưởng được. Tinh thần ái quốc vùng dậy mãnh liệt trong tôi. Những truyền thống lâu đời của tổ tiên cần được triệt để bảo vệ. Không ai có quyền phá hủy di tích của tiền nhân để đem vào đất nước nầy những “mê hoặc” của ngoại bang. Xin nói rõ là gia đình tôi lúc bấy giờ theo thờ Ông Bà, một hình thức tôn giáo mang tính chất thuần túy Phương Đông. Tôi nhận thấy mình có nhiệm vụ phải bảo vệ những truyền thống tinh thần của dân tộc, nên mỗi khi nghe giảng đạo Gia-tô, phân phát sách báo Gia-tô hoặc gặp phải những người theo đạo Gia-tô, tôi liền chống trả mãnh liệt. Tôi đã áp dụng tất cả mọi phương tiện để đối phó ngay cả việc ném đá vào đầu các Giáo sĩ tôi cũng không từ nan.

Chẳng những thế thôi, ròng rã mấy năm, tôi vẫn cứ theo tranh luận với các Giáo sĩ và phá tán những người rao truyền Tin Lành, chung quy chỉ vì lý do huyền thoại “Vì đạo mà mất nước” (ám chỉ một giáo hội lớn tại Việt Nam).

Nhưng lạ lùng thay, ân điển và lòng yêu thương vô lượng của Chúa đã chuẩn bị cứu tôi. Khởi điểm khiến tôi đi sâu vào việc nghiên cứu chân lý Tin Lành và tìm được ơn cứu rỗi, là do vấn đề một ông truyền đạo nêu lên sau đây: “TIN THEO ĐẠO TIN LÀNH BỎ ÔNG BÀ, HAY KHÔNG THEO ĐẠO TIN LÀNH BỎ ÔNG BÀ?” Vấn đề có vẻ thích thú. Tôi bắt đầu suy nghĩ, cố tìm những luận cứ vững chắc, sắc bén ngỏ hầu có thể bẻ gãy dễ dàng những lý lẽ của “đối phương”. Tôi tin chắc rằng tôi sẽ thắng.

Một đêm kia, tại tòa giảng Hải Châu ông Truyền đạo nầy quả quyết: “AI KHÔNG THEO TIN LÀNH, KHÔNG TIN NHẬN ĐỨC CHÚA JÊSUS, KHÔNG THỜ ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ BỎ ÔNG BÀ.” Để chứng minh, ông đọc luôn một câu chữ Hán: “Mộc hữu bổn, thủy hữu nguyên, nhân sanh hồ tổ”. Rồi ông lớn tiếng giải thích: “Cây có cội, nước có nguồn, người có tông có tổ. Cây không cội, nước không nguồn, người không có tông tổ thì sao gọi là có ông bà được? Đức Chúa Trời dựng nên loài người, nhưng người không thờ phượng Ngài. Kinh Thánh chép rằng: “Đức Chúa Trời dựng nên loài người… Ngài dựng nên người nam cùng người nữ” (Sa 1:27), không tin nhận Đức Chúa JÊSUS là Con Đức Chúa Trời và không tin theo Tin Lành của Ngài thì khác nào cây mất cội, nước mất nguồn, người mất ông bà!” Ông cứ theo cái đà ấy mà giải thích thao thao bất tuyệt. Rồi ông lại đặt câu hỏi: “QUÝ VỊ BIẾT MÌNH THỜ ÔNG BÀ MẤY ĐỜI KHÔNG?” Chúng tôi chưa kịp phản ứng thì ông lại bắt sang vấn đề phổ hệ thờ ông bà, cách biên mục lục trên bài vị đặt ở bàn thờ để thờ ngũ đại mai thần chủ tức là ông CAO, TẰNG, TỔ, KHẢO, HIỂN. Ông giải thích: Khi có một người trong tộc qua đời, muốn giữ cho đúng câu NGŨ ĐẠI MAI THẦN CHỦ phải sửa lại bài vị, tức nhiên là phải xóa tên ông CAO, đem tên ông TẰNG vào chỗ ông CAO ông KHẢO vào chỗ ông TỔ, đem tên ông HIỂN vào chỗ ông KHẢO và biên tên ông mới qua đời vào chỗ ông HIỂN. Như vậy là bỏ ông bà chứ không phải thờ ông bà. Nhìn vào thính giả ông tiếp tục đặt một câu hỏi khác: “Như vậy muốn thờ ông bà phải làm sao?” Rồi ông lại giải thích: “Muốn thờ ông bà cho thật đúng nghĩa phải giữ nguồn, tìm gốc, tưởng nhớ và tôn kính đấng sinh thành mình mãi mãi. Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa dựng nên loài người, nên hễ ai tìm kiếm Ngài tức là tìm nguồn giữ gốc, là thờ Tông thờ Tổ vậy.

Ngồi trong nhà giảng nghe những lời nầy, đầu tôi nóng bừng lên. Tâm can tôi sục sôi như lửa bốc, vì mọi người trong gia đình tôi đều theo thuyết thờ cúng ông bà rất mực cung kính. Không ai có quyền xúc phạm đến một hình thức thờ phượng đã ăn sâu vào lòng dân tộc, phỉ báng đạo giáo của tổ tiên là một điều sỉ nhục không thể tha thứ được. Sự căm tức của tôi càng lúc càng lên cao. Tôi muốn đứng lên tranh luận với ông Truyền đạo nầy, nhưng tôi ngần ngại không biết ông trưng dẫn có đúng hay không. Nếu đúng thì sao? Tôi tự nhủ không cần phải gấp, đợi giảng xong về hỏi lại ông thân tôi xem gia đình chúng tôi thờ được mấy đời, rồi sẽ “chỉnh” ông ta sau.

Về đến nhà, ông thân tôi đã ngủ. Nhưng không thể đợi sáng hôm sau được, tôi bèn đánh thức ông cụ dậy và hỏi ngay: “Thưa thầy, gia đình ta thờ ông bà được mấy đời?” Ông thân tôi vừa khó chịu vừa lấy làm lạ hỏi lại: “Mầy làm cái gì mà gấp vậy?” Tôi bèn thuật lại cho ông cụ nghe tất cả những điều ông truyền đạo đã giảng giải về sự thờ cúng tổ tiên. Cụ bảo: “Tao không nhớ phổ hệ gia đình ta ghi chép phải thờ ông bà mấy đời. Chờ ít lâu nữa sẽ có ngày GIỖ TỔ tại Huế, về xem mới biết được.”

Tôi cũng xin nói thêm là trước đó không lâu, gia đình tôi có nhận được một quyển sách nhan đề: TRUNG HỌC TRI THỦ PHẬN”, không biết của ai gởi tặng. Tác giả quyển sách là Pierre Lục, in tại nhà in Quy Nhơn, xuất bản 27-11-1908. Nội dung sách gồm 9 chương, luận về đạo hiếu của con cái đối với ông bà. Chương I có bốn tiết mục như sau:

1 – Con cái phải yêu mến cha mẹ

2 – Con cái phải tôn kính cha mẹ

3 – Con cái phải vâng lời cha mẹ

4 – Con cái phải giúp đỡ cha mẹ.

Tôi xin trích nguyên văn một đoạn, để chúng ta cùng hiểu qua đại ý: “Sách vở thánh hiền để lại, đều chỉ việc hiếu thảo làm trọng nhứt: Như có lời rằng: Thiên kinh, vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên”. Nghĩa là ngàn cuốn sách chép muôn vạn thiên, thì cũng lấy việc hiếu thảo làm đầu nhứt. Lại trong đại học rằng: “Vi nhơn tử chỉ ư hiếu” nghĩa là đạo làm con, thì phải lấy sự hiếu thảo cha mẹ làm gốc.

Vả lại sách vở cũng kể tội thất hiếu là tội nặng lắm, chẳng có hình phạt nào cho cân xứng mà phạt tội ấy, dầu xử trảm quyết là chém đầu, dầu xử lăng trì là bó chai rái làm đèn mà đốt sống, dầu xử bá đao là phân thây ra trăm tấm, thì cũng chưa cân xứng tội quái gở ấy. Theo như lời Phu Tử rằng: “NGŨ HÌNH CHI THUỘC TAM THIÊN, TỘI MẠC ĐẠI Ư BẤT HIẾU”, nghĩa là giống tội trọng phải luật phạt theo ngũ hình, thì kể hơn ba ngàn giống tội, mà chẳng có tội nào hơn tội bất hiếu” (trang 8 THTTP).

Gia đình chúng tôi rất quý trọng những tư tưởng chứa đựng trong quyển “Trung Học Tri Thủ Phận” nầy. Những lời đã được trích dẫn trên đây kể như khuôn vàng thước ngọc cho đời sống chúng tôi. Bởi đó, hễ ai đụng đến sự thờ cúng ông bà thì chúng tôi quyết định chống đối đến cùng, nhất là đối với những người giảng đạo Gia-tô Cơ Đốc. (Thật chúng tôi là những người mù đang dò dẫm trong bóng tối).

Sau khi ông thân đi dự ngày Giỗ Tổ ở Huế về, có đem theo bản SAO LỤC PHỔ HỆ tộc LÊ VĂN của chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy điều ông truyền giảng nói về việc biên bài vị đặt trên bàn thờ, về Ngũ – Đại – Mai – Thần – Chủ là đúng, nhưng đối với bản Gia phả tộc Lê Văn chúng tôi ghi mười đời chứ không phải năm đời như ông Truyền đạo đã nói.

Thế là chúng tôi tin chắc mình có những lý lẽ vững chắc để đánh đổ ông Truyền đạo. Tôi liền sửa soạn những câu hỏi “hóc búa” và đi ngay đến nhà giảng. Khi gặp ông Truyền đạo tôi liền vào đề ngay: “Thưa ông, ông nói theo đạo Tin Lành, nhận Đức Chúa Jêsus và thờ Đức Chúa Trời là có nguồn gốc, có căn nguyên là tìm được Tông được Tổ, tại sao không thấy người Tin Lành đặt bàn thờ để thờ phượng?” Ông Truyền đạo liền giở quyển sách đang cầm trên tay ra, và đọc cho tôi nghe một câu thế này: “Các ngươi thờ lạy sự các ngươi không biết, chúng ta thờ lạy sự chúng ta biết… Khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng… Đức Chúa Trời là thần, nên ai thờ lạy Ngài phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy Ngài” (Gi 4:22-24). Ông nhắc lại những điểm quan trọng, nào là “CÁC NGƯƠI THỜ LẠY SỰ CÁC NGƯƠI KHÔNG BIẾT”, nào là “Phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy”. Rồi ông vặn lại tôi: “Vấn đề không phải là đặt ra bàn thờ và bày lễ cúng tế, mà là hiểu biết, tôn kính, vâng giữ lời giáo huấn. Thờ phượng thật là lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ, tôn kính và vâng lời răn dạy của Đấng mình thờ, thầy có thờ như vậy hay không?” Tôi không trả lời, nhưng lại hỏi một câu khác: “Ông nói Đức Chúa Trời dựng nên vạn vật, dựng nên loài người, như vậy thì ai dựng nên Đức Chúa Trời?” Ông Truyền đạo lại giở và đọc một câu khác trong quyển sách đang còn cầm nơi tay: “Đức Chúa Trời phán rằng: Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu” (Xu 3:14). Để tôi có thể hiểu rõ hơn, ông giải thích: “Tự Hữu Hằng Hữu nghĩa là Ngài tự nhiên mà có, có từ trước vô cùng và nhất là còn đến đời đời vô cùng. Bởi đó, Ngài là Chủ tể của trời đất muôn vật. Ngài dựng nên trời đất muôn vật, nhưng không ai dựng nên Ngài cả, vì như tôi đã nói (lời ông Truyền đạo) sự hiện hữu của Ngài ở ngoài thời gian.”

Tôi lại đặt câu hỏi thứ ba: “Ông bảo là thờ ông bà theo mục lục của bài vị thì chỉ có năm đời thôi, nhưng thực sự gia phổ của tộc tôi ghi tới mười đời kia mà?” Sau câu hỏi nầy tôi đinh ninh ông Truyền đạo sẽ bí lối và không thể nào trả lời được. Tôi tin chắc thế nào cũng thắng. Nhưng ông Truyền đạo tươi cười và hỏi lại tôi một câu: “Được rồi, gia đình thầy thờ mười đời, vậy cái tên thứ mười một ở đâu?” Tôi không trả lời được. Tôi không ngờ ông Truyền đạo đã đưa tôi vào thế “kẹt” như vậy. Phải, CÒN ÔNG THỨ MƯỜI MỘT Ở ĐÂU? Tôi bàng hoàng cả người, đành phải đánh lãng ra về…

Từ đó, tôi cứ bâng khuâng mãi… Tâm hồn tôi luôn luôn bị dày vò câu thúc đối với những vấn đề ông Truyền đạo đã đặt ra. Đâu là sự thật, đâu là chân lý? Tôi bắt đầu suy nghĩ, cố gắng đi sâu vào dòng sinh hóa của vũ trụ và vạn vật. Nếu có Tổ thứ mười thì phải có ông thứ mười một rồi đến ông cao hơn, đến dòng giống, đến thân tộc và nhân loại. Như vậy phải có một Đấng dựng nên loài người, Đấng ấy chính là Đức Chúa Trời của đạo Gia tô. Khi đạt đến ý nghĩ Đức Chúa Trời là nguồn gốc của muôn loài, vạn vật, linh hồn tôi như đang nhận được ánh sáng của chân lý cứu rỗi. Nhưng trong chính giờ phút ấy, bằng một tâm linh bàng hoàng xúc động, tôi nhận thấy quá khứ mình như trở lộn về với bản ngã trần trụi đầy dẫy những ô uế, xấu xa, giả dối, ôm ấp dục vọng và tội lỗi thấp hèn. Làm thế nào có thể thờ phượng Đức Chúa Trời cho được? Tôi hết sức lo âu gần như hoảng hốt trong trạng thái tinh thần đau khổ và căng thẳng cùng tột ấy. Tôi tự hỏi: Phải làm sao để được tha tội? Làm sao để được cứu rỗi? Làm sao để được thuận hòa cùng Đức Chúa Trời?

Ánh sáng chân lý đã đến với tôi, sau những năm tháng dò dẫm trong bóng tối. Vào mùa xuân năm 1919, tại nhà giảng Hải Châu (Đà Nẵng), tôi đã quỳ gối tin nhận Đức Chúa JÊSUS làm Cứu Chúa của đời mình, vì Ngài đã gánh vác tội lỗi tôi và chết trên cây thập tự giá vì tôi.

Lúc ấy, có Giáo sĩ E. F. Irwin là người mấy năm trước đã bị tôi ném đá, chứng kiến.

  1. NHỮNG CHẬP CHỮNG TRONG ÁNH SÁNG CỦA LỜI CƠ ĐỐC

Tôi đã thực sự trở nên người mới trong Chúa. Gã thanh niên lúc trước ương ngạnh, thường hay làm ồn ào giữa đám đông, khuấy rối cản trở bằng mọi cách không cho người khác vào nghe giảng hoặc cãi vã la lối làm mất trật tự mỗi khi rao giảng xong – bây giờ trở nên sốt sắng đến dự các buổi giảng Tin Lành – thường ngồi ở hàng ghế thứ hai trong các buổi nhóm cầu nguyện hoặc thờ phượng. Gã thanh niên ấy chính là tôi. Tay tôi không còn lăm le những đá, nhưng chỉ có một quyển Tin Lành Giăng lúc nào cũng kề cận bên mình, (vì lúc bấy giờ những sách khác chưa được phiên dịch sang Việt ngữ).

Từ ngày công khai trở lại cùng Chúa, tôi được người ta gán cho một cái tên mới: “Thầy Gia-tô”… “Anh Gia-tô”… có khi “Thằng Gia-tô”. Tại miền Trung, lúc bấy giờ người ta gọi các Giáo sĩ giảng Tin Lành là ông Gia-tô… người theo đạo Tin Lành là người Gia-tô, bởi JÊSUS CHRIST được dịch sang Hán văn là Gia-tô Cơ Đốc. Trong khi giảng, nhiều lúc các Giáo sĩ cũng sử dụng từ ngữ “Gia-tô Cơ Đốc”… hoặc “Đạo Gia-tô” có quyền cứu rỗi” v.v… (Sau nầy tôi tự nghĩ, người ta gọi tôi là “NGƯỜI GIA-TÔ” cũng không có lạ, vì trong đời các sứ đồ – tại thành An-ti-ốt – người ta cũng bắt đầu gọi những người theo Chúa là “Chrétien” (Cong 11:26).

Ở miền Bắc, trái lại người ta gọi Tin Lành là “Đạo Rối”. Đi đến đâu cũng đều nghe dân chúng áp dụng một lối gọi như vậy. Nguyên nhân có lẽ do ác ý của một nhóm người bảo thủ, có thành kiến – muốn đánh lạc chân lý của Tin Lành, dùng hai chữ “Đạo Rối” để xuyên tạc gây một tiếng vang không tốt đối với đạo Chúa giữa các giới đồng bào chăng?

Khác với miền Trung và miền Bắc, đồng bào miền Nam gọi Đạo Tin Lành là “Đạo Hoa Kỳ”. Không hiểu bởi lý do nào mà họ đã Mỹ hóa đạo Chúa như vậy, mặc dù những tấm bảng treo trước các phòng giảng đều được đề là Hội Thánh Tin Lành hoặc Eglise Evangelique. Có lẽ họ thấy phần đông các Giáo sĩ giảng Tin Lành đều là người Hoa Kỳ, nên đã gọi như vậy cũng nên.

Ngay từ buổi đầu, việc xưng hô danh hiệu của Tin Lành đã gặp nhiều khó khăn. Ba miền dùng ba từ ngữ khác nhau, mà mỗi từ ngữ đều mang ít nhiều tính chất khinh thường hoặc châm biếm, xuyên tạc sự thật. Những người có ác ý với Giáo hội Tin Lành lợi dụng triệt để tình trạng bất lợi ấy để gieo rắc nghi ngờ, chia rẽ nhằm mục đích bất chính là ngăn trở công việc đầu tiên của Chúa ở Việt Nam. Nhưng Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã sắp đặt cách lạ lùng cho Hội Thánh Ngài, “Hội Thánh chỉ có một Thánh Linh, Đức Chúa Trời tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được ích chung” (ICo 12:7 IICo 12:4).

Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây, để trình bày rõ hơn tại sao Hội Thánh Chúa tại Việt Nam lại được Đức Chúa Trời ban cho một cái tên kỳ diệu là “Hội Thánh Tin Lành Việt Nam” như ngày nay.

Trong khoảng thời gian từ năm 1912 đến 1928, người Pháp gọi Hội Truyền giáo là La Mission Evangelique; do đó các phòng giảng hoặc nhà giảng phải treo tấm bảng với hàng chữ: MISSION EVANGÉLIQUE hoặc EGLISE EVANGÉLIQUE. Đến năm 1928, Hội Thánh chúng ta đã trình bảng Điều lệ lên Hoàng đế Việt Nam, để xin thành lập Hội Thánh riêng. Bản điều lệ đó đã được dịch chữ Eglise Evangélique du Vietnam ra chữ Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Từ đó, từ ngữ Hội Thánh Tin Lành Việt Nam được phổ biến và trở nên quen thuộc chẳng phải chỉ đối với mọi người trong nước mà cả hải ngoại nữa.

Thật Chúa đã chọn tên đó cho Hội Thánh của Ngài tại Việt Nam, khác hẳn với hai mươi ba xứ mà Hội Truyền giáo Phước Âm Liên Hiệp đã đến để rao truyền Tin Lành. Hội Thánh tại những quốc gia này đều mang chung một tên là Hội Thánh Liên Hiệp. Năm 1957, khi tôi đến New York, có một nhân viên của Hội Truyền giáo tại đó hỏi tôi: “Sao Hội Thánh tại Việt Nam không lấy tên chung là Phước Âm Liên Hiệp, mà lại lấy tên là Hội Thánh Tin Lành Việt Nam?” Tôi trả lời rằng: “Tôi cũng không biết nữa. Nhưng chắc Chúa biết, vì từ trước đến nay không có một Hội đồng nào hoặc một Ban Trị sự nào quyết nghị đặt tên đó cho Hội Thánh Việt Nam”.

  1. Tạm Rời Gia Đình

Bây giờ tôi xin trở lại những ngày đầu tiên tôi mới tin nhận Chúa. Thật, khi đức tin vừa chớm nở và niềm hy vọng đang lên, thì những sự bắt bớ cũng từ khắp nơi tràn về nhằm ngăn cản và phá tan những mầm mống ấy.

Sự bắt bớ khởi đi từ bạn bè tôi lúc trước đã từng sống chung trong tính hư tật xấu, đến những người trong họ ngoài làng. Tôi đi đâu cũng nghe người ta xầm xì to nhỏ: “Cậu Thái trước chống báng Gia-tô dữ lắm mà bây giờ lại theo Gia-tô rồi. Tại sao nó lại theo đạo nhỉ? Nó có biết theo đạo là bỏ ông bà không nhỉ? Nó có biết dân tộc mình vì đạo ấy mà vong gia thất quốc không nhỉ? Thật tội nghiệp cái gia đình đó. Tội nghiệp ông cụ già có hai thằng con trai bất hiếu, chúng theo đạo hết, sau nầy ai cúng giỗ ông bà? Nhà vô phước!”. Đó là đại khái những câu nói thường nhật nơi cửa miệng của những người trong thành phố hoặc trong xóm tôi ở.

Trong thời gian ấy, tại vùng tôi ở có một thanh niên tên H. mới trở lại cùng Chúa, cũng bị gia đình bắt bớ nặng nề. Ban đầu ông thân sinh anh nầy không cho đi nhà giảng. Nhưng anh cứ trốn đi nghe giảng và thờ phượng Chúa. Anh bị đánh đập nặng nề và ông cấm không cho đọc Kinh Thánh. Nhưng anh cứ tìm cách đi nhà thờ và đọc Kinh Thánh. Vì thế, anh bị đánh nặng hơn. Hai tay bị trói chặt bằng dây gai vào cột nhà để anh không được đi ra ngoài. Tuy nhiên, dù thân thể bị bầm giập, anh vẫn cứ tin kính Chúa bằng cách cầu nguyện và hát thơ thánh. Ông thân sinh anh càng giận hơn. Ông lấy ra một con dao, đoạn nói với anh bằng một giọng quyết liệt: “Bỏ đạo hay phải chết”. Sau trận đòn thập tử nhất sinh đó mấy ngày, chúng tôi nhận được tin anh H. đã bỏ nhà trốn đi biệt xứ. Nhận được tin ấy, một mặt chúng tôi rất buồn vì không còn thấy bóng người bạn chung đức tin, nhưng một mặt chúng tôi mừng cho anh H. thoát khỏi được hình phạt nặng nề của gia đình. Chúng tôi cầu nguyện xin Chúa nâng đỡ anh, che chở và gìn giữ đức tin anh trong ơn Chúa. Tuy nhiên, càng nghĩ đến anh, chúng tôi càng lo sợ cho số phận của chúng tôi.

Khi anh H. đi rồi, sự bắt bớ trong vùng trút vào gia đình tôi tất cả. Ông cụ Đ. thân sinh anh H. là bạn thân của cha chúng tôi, nên bất cứ chuyện gì xảy ra trong gia đình, cụ ấy cũng đều đem đến bàn luận cùng ông thân chúng tôi. Việc anh H. theo đạo thế nào, cụ ngăn cấm, đánh đập ra sao, bắt anh H. phải bỏ đạo hay chết cách nào, nhất nhất cụ đều kể hết cho ông thân chúng tôi nghe. Cụ nói một cách quả quyết: “Bây giờ nó bỏ đi, tôi kể như nó chết rồi. Chứ nó còn sống mà theo đạo thì thế nào tôi cũng giết nó”. Rồi cụ lại hỏi ông thân tôi: “Còn anh nghĩ sao về hai thằng con anh?”

– Ông thân chúng tôi buồn rầu nói từng tiếng một “Tôi cũng buồn lắm nhưng chưa biết tính sao! Từ ngày chúng nó theo đạo, tôi thấy chúng nó không làm gì bậy bạ như trước. Chúng nó thường ngồi xem sách. Đôi khi thấy chúng nó quỳ gối nói cái gì lầm thầm trong miệng, tôi cũng không rõ. Chúng không đi đánh bạc, không xem hát cũng không hút thuốc lá nữa. Tôi có lòng mừng nhưng phiền một cái là chúng theo đạo. Tôi đang theo dõi hành động của chúng và nghĩ cách đối xử đây chú ạ!”

– Ông cụ Đ. lại tiếp: “Chắc anh nghe rồi, vụ thằng H. của tôi đó. Nó trốn đi tôi không tìm kiếm làm gì cho mệt. Nó đi đâu mặc kệ, tôi không muốn thấy nó nữa. Thà nó chết cho khuất mắt tôi, chứ sống mà theo đạo thì không được. Tôi dứt khoát như vậy”.

Chúng tôi chẳng dám hé môi nói một lời nào, chỉ âm thầm thưa với Chúa. Xin Chúa bảo vệ chúng tôi, cứu ông thân và gia đình chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy mừng và hy vọng, vì ông thân chúng tôi ít ra cũng đã thấy một phần nào quyền năng của Chúa đổi mới đời sống chúng tôi.

Nhà chúng tôi ở rất xa nhà thờ, nên việc đi nhóm lại thờ phượng Chúa thật vất vả. Chúng tôi phải đi thật sớm mà về thì luôn trễ. Có khi tới mười giờ đêm mới về đến nhà. Những lúc như vậy thường phải nhịn đói không có cơm ăn. Người nhà chúng tôi bảo rằng: “Chúng nó theo đạo có Chúa no rồi, để cơm làm gì!” Chúng tôi cố gắng chịu đựng. Một tối mùa đông, anh em chúng tôi về trễ, cổng đóng kín không vào nhà được, phải ẩn mình trong bụi cây chịu đói chịu lạnh cả đêm.

Tuy nhiên, không gì làm chúng tôi đau khổ bằng những ngày gia đình có cúng giỗ ông bà, nhất là cúng giỗ mẹ chúng tôi. Các chị tôi sắm sửa cỗ bàn, thắp đèn hương, đoạn vừa khóc vừa kể lễ: “Mẹ ơi mẹ, mẹ sinh hai thằng con trai, nay chúng nó đã theo đạo bỏ ông bỏ bà, không cúng giỗ để hương tàn khói lạnh, mẹ ơi!” Mỗi lần cúng giỗ hai ba ngày, là mỗi lần như diễn lại một đám tang trong gia đình. Nhìn nét mặt buồn phiền của ông thân chúng tôi, chúng tôi hết sức chua xót. Chúng tôi biết ông đau khổ lắm. Chúng tôi thấy rõ những băn khoăn của ông trước những áp lực của bạn hữu và người trong xóm làng.

Bởi đó, ngoài việc gia tăng thì giờ cầu nguyện đặc biệt xin Chúa cưu ông thân tôi và gia đình, tôi nài xin Chúa mở đường cách nào, để tôi khỏi nhìn thấy cảnh đau lòng hằng ngày và có thể giữ được đức tin. Tôi thiết tha xin Chúa giúp tôi tạm rời khỏi gia đình ít lâu. Trước là để tránh sự bắt bớ của bạn hữu xóm làng, sau để khỏi nhìn nét mặt buồn phiền của ông thân tôi. Nhiều đêm nước mắt tôi hòa với mồ hôi trong những giờ cầu nguyện. Trước khi đi, tôi lặp đi lặp lại câu này với Chúa: “Xin Chúa giúp đỡ con, gìn giữ và dẫn dắt con trong lúc còn tuổi trẻ phải lìa gia đình để vững đức tin”.

Vào lúc năm giờ chiều ngày 28-5-1919 tôi xuống tàu thủy đậu ở bến Đà Nẵng. Tám giờ sáng hôm sau tôi đến Huế. Mặc dù ở Huế có nhiều bà con, nhưng tôi không đến nhà một người nào cả. Tôi cương quyết chỉ nhờ cậy sự giúp đỡ của Chúa và theo sự dẫn dắt của Ngài mà thôi. Lên khỏi tàu, trong khi đang rảo bước về hướng chợ Đông Ba (Huế), thì một người lạ đến bắt tay niềm nở mời tôi về nhà chơi. Vừa theo người ấy, tôi vừa suy nghĩ không biết ông ta là ai. Về đến nhà, nhờ sự giải thích của ông, tôi mới biết ông là một nhà thầu khoán. Ông có một người cháu đã làm việc với ông thân của tôi rất nhiều năm nên rất quen biết tôi. Khi thầu được công trường xây cất trường trung học Khải Định (Huế), chú cháu bàn với nhau mời tôi cộng tác, và họ đã viết thư cho người vào Đà Nẵng gọi tôi. Khi gặp tôi tại Huế, họ tưởng tôi đã nhận được thư rồi, nên đón tiếp rất niềm nở. Lúc bấy giờ tôi chỉ nói được một câu: “CÁM ƠN CHÚA”, vì tôi biết rằng: “Đức Giê-hô-va chỉ dẫn các bước của tôi” (Ch 16:9b).

Từ đó chẳng những Chúa giúp tôi giải quyết được những khó khăn của vấn đề tài chánh, nhưng Ngài còn cho tôi có cơ hội phát triển sung túc nữa là khác. Sau giờ làm việc, tôi vẫn cầu nguyện và xem đi xem lại quyển Tin Lành Giăng, quyển sách duy nhất mà tôi có. Vào những ngày Chúa nhật tôi nhớ rất kỹ những giờ thờ phượng tại nhà thờ, đến nỗi hằng đêm tôi thường nằm mơ thấy vị Giáo sĩ đã giảng dạy mình khi trước. Tâm linh tôi buồn bã trước những thú vui đời nầy và luôn luôn cảm thấy cô quạnh giữa một xã hội náo nhiệt. Do đó, tôi quyết định rời bỏ công trường mà công việc làm ăn đang thịnh vượng để đi tìm một công trường khác – công trường thuộc linh.

Tôi sắp đặt công việc trao trả cho chủ thầu và trở lại quê nhà sau gần một năm xa cách. Chúa giúp đỡ tôi thi hành mọi sự đều được may mắn. Chúa nhìn thấy mọi ước vọng của lòng tôi, đúng như lời Ngài đã phán cùng Sa-mu-ên khi được sai đi xức dầu cho Đa-vít: “Loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng”. Vâng, Chúa biết lòng tôi tha thiết muốn đưa nhiều người đến với Ngài. Chúa biết tôi nặng lòng đối với công trường thuộc linh hơn là công trường thế gian, nên khi tôi đi cũng như lúc tôi về, Ngài đều giúp đỡ tôi luôn luôn được may mắn và dễ dàng.

Khi về đến nhà, tôi được mọi người vui mừng tiếp đón. Tuy nhiên, giữa cảnh vườn cũ nhà xưa, cái vẻ lạnh lùng chống đối sự tin kính vẫn còn. Nhưng dù gặp khó khăn, tôi vẫn không chán nản – trái lại rất vui thỏa phấn khởi, mạnh tiến trên đường đức tin. “Lời Chúa (đã) là ngọn đèn cho chơn tôi, ánh sáng cho đường lối tôi.” Giữa giao điểm cuối cùng của sự tối tăm và khởi điểm của sự sáng, tôi cương quyết xây lưng lại với màn đêm dày đặc, mắt nhìn thẳng vào khung trời đầy hy vọng của tương lai. Bình minh đã hiện ra với những tia nắng ấm áp, trong trẻo. Tôi phấn khởi đọc lại những câu nầy trong Tin Lành Giăng: “Sự sáng soi trong nơi tối tăm, tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng… Sự sáng nầy là sự sáng thật, khi đến thế gian, soi sáng cho mọi người. Ngôi Lời ở thế gian và thế gian đã dựng nên bởi Ngài. Nhưng thế gian chẳng từng nhận biết Ngài. Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy. Nhưng hễ ai đã nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài” (Gi 1:5,9-12).

Khi đọc đến chuyện người mù tên Ba-ti-mê được Chúa chữa cho sáng mắt, tôi sung sướng nghĩ rằng Ba-ti-mê đã bắt gặp một dịp tiện quý hơn vàng. Ông không bỏ lỡ. Ông đã kêu xin sự thương xót của Chúa vừa lúc Ngài đi ngang qua chỗ mình ngồi. Khi nghe Chúa hỏi: “Ngươi muốn ta làm chi cho ngươi?” Ông chỉ thưa một điều: “XIN CHO TÔI ĐƯỢC SÁNG MẮT”. Thật đúng như Lời Chúa phán, đức tin ông đã cứu ông! Tôi rất cảm động, trình xin với Ngài: Lạy Chúa, con là Ba-ti-mê (ngày nay). Xin Chúa mở mắt con, cho con ra khỏi địa vị tội lỗi, khỏi sự tối tăm của ma quỷ, khỏi lễ giáo sai lầm và khỏi những sự thờ phượng mà mình không biết”.

Sau những lần thử nghiệm, đức tin, tôi trở nên vững chắc hơn trong ánh sáng của Lời Sự Sống. Bởi ơn yêu thương và sự dẫn dắt của Chúa, tôi có thể cùng nói như Đa-vít rằng: “Chúa thắp ngọn đèn tôi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi soi sáng sự tối tăm” (Thi 18:28).

  1. Học Phước Âm Yếu Chỉ.

Bước đầu trong cuộc hành trình theo Đức Chúa JÊSUS của tôi là trở lại học “Phước âm yếu chỉ” để chịu báp-tem. Tôi hành động như những người thuở trước, sau khi nghe Phi-e-rơ giảng đã cảm động nên hỏi: “ Chúng tôi phải làm chi?” Phi-e-rơ trả lời rằng: “Hãy hối cải, ai nấy phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus chịu báp-tem để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho của Đức Chúa Trời”(Cong 2:37-38). Tôi muốn được tha tội. Tôi ham thích sự ban cho của Đức Chúa Trời, bởi đó, hằng tuần tôi đều để thì giờ đi học giáo lý.

Quy tắc học Phước âm yếu chỉ của các Giáo sĩ lúc bấy giờ là: Mỗi học viên phải học liên tục mười hai tuần lễ, sau đó, qua ban khẩu vấn, xong rồi mới được nhận làm báp-tem. Ai không theo liên tục mười hai tuần, nếu muốn chịu phép báp-tem phải học lại từ đầu. (Thí dụ, một học viên theo học được năm tuần rồi nghỉ một tuần thì tuần tiếp theo đó kể như là tuần thứ nhất, thay vì là tuần thứ sáu. Năm tuần học trước kể như bỏ). Tôi đã bị xóa một kỳ sau khi đã học bảy tuần vì lý do nêu trên nên tôi lo lắm. Lần thứ hai nầy tôi cố gắng đi học liên tục mười hai tuần, không gián đoạn một tuần nào cả. Sau khi được Ban Trị sự hỏi về yếu lý, tôi được nhận cho làm báp-tem. Lễ báp-tem của tôi do cụ Giáo sĩ I. R. Stebbins cử hành ở bờ biển Đà Nẵng ngày 4-7-1920.

Sau khi chịu báp-tem, tôi như người mù Ba-ti-mê vừa sáng mắt, nhìn thấy cái gì cũng đẹp, cái gì cũng lạ, nhất nhất mọi sự đều vui thích đối với tôi.

Nhưng liền trong tuần lễ đó, có một việc xảy đến nhằm thử thách đức tin chúng tôi. Số là mỗi tuần lễ như vậy, Hội Thánh đều có tổ chức hai buổi giảng Tin Lành tại nhà giảng nhánh bên Hà Thân vào mỗi thứ ba và thứ sáu. Từ Đà Nẵng muốn đến nhà Hà Thân phải qua một cái đò gọi là đò Hàng. Chúng tôi thường đi với các Giáo sĩ để giúp đỡ sắp xếp buổi nhóm và làm chứng cho người chưa biết Chúa. Một tối nọ vừa ra đến khỏi sông thì giông gió nổi lên, nước tràn vào đò, mọi người đều sợ hãi. Trong đêm tối, có những tiếng kêu la thất thanh. Phần đông những người đi chuyến đò nầy đều chưa tin Chúa. Chúng tôi khuyên ai ngồi chỗ nào cứ ngồi yên chỗ nấy. Riêng tín đồ thì cầu nguyện và hát thơ thánh số 4. Nội dung bài hát như sau:

Từ tối qua sáng: “Jêsus đưa tôi là sự rất vui

Là sự yên ủi lòng tôi không thôi

Không cứ đi đâu không cứ làm gì

Có tay Đức Chúa Trời thường đưa tôi đi.

Điệp khúc: Jêsus đưa tôi, Jêsus đưa tôi

Chính tay Cứu Chúa Jêsus đưa tôi.

Muốn làm môn đồ trung tín mà thôi

Vì chính tay Chúa luôn luôn đưa tôi.

Có khi gặp nhiều đường lối khốn khổ,

Có khi được cả những sự vui thú

Bước theo nước lặng hoặc qua sông sóng nổi

Cũng là tay Cứu Chúa đưa tôi”.

Khi chúng tôi đang hát, thì nghe tiếng của những người chèo đò la hoảng: “Chết rồi, đứt một quai chèo rồi!” Nhưng chúng tôi cứ hát cho đến khi thuyền tấp vào bờ, cách xa đến độ trăm thước. Thuyền đầy ắp nước gần chìm. Mọi người nhìn chúng tôi đều ướt như chuột, nhưng tạ ơn Chúa gìn giữ, tất cả đều bình an. Sau đó có bốn người đi cùng chuyến đò ấy đã trở lại tin nhận Chúa. Thật Chúa đã dùng cơn bão làm tăng thêm đức tin chúng tôi và làm sáng danh Ngài.

  1. Một Người Tin Cả Nhà Được Cứu

Tháng 5-1924 có một Hội đồng nhóm tại Đà Nẵng, được mệnh danh là Hội đồng Phục hưng lần thứ nhất. Diễn giả chính là Mục sư Hoàng Nguyên Tố, người Trung Hoa. Lúc bấy giờ tôi hầu việc Chúa ở Hội An, còn anh tôi hầu việc Chúa ở Châu Đốc. Nhơn dịp nầy, chúng tôi đều về để dự nhóm.

Từ trước đến nay, ngoài sự khẩn thiết cầu xin Chúa cứu ông thân chúng tôi và gia đình, chúng tôi còn nhờ Hội Thánh và các ông bà đã tin Chúa tìm đủ mọi cách để dẫn dắt gia đình chúng tôi trở lại với Chúa. Nhân lúc có Hội đồng do Mục sư người Trung Hoa giảng, chúng tôi nhờ một người quen đến mời ông thân tôi đi nghe. Cám ơn Chúa, ông cụ nhận lời. Và chúng tôi lại có cớ để ngợi khen Chúa hơn nữa, ấy là bài giảng và cách giảng của Mục sư Hoàng Nguyên Tố hôm đó như giảng riêng cho ông thân chúng tôi. Đề mục của ông là: “TỘI LỖI”. Ông viết chữ NHÂN lên bảng đen, sau khi đọc câu “nhân chi sơ tánh bổn thiện”. Ông giải thích rằng bản tính nguyên thủy của con người là tốt lành, đó là bản tính do Đức Chúa Trời dựng nên, nhưng “cập tương cận tánh tương viễn” – gần với tội lỗi và gian ác nên cái tính lành dần dần mất đi. Tửu, Sắc, Tài, Khí, đã phá hủy cái bản tính tốt đẹp nguyên thủy của con người. Bốn thứ vây chặt lại làm thành bốn bức tường, khiến cho chữ NHÂN bị nhốt vào trong chữ KHẨU thành ra chữ TÙ.

Hiền nhân quân tử từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây – có ai đã nhảy qua khỏi bốn bức tường nầy không? – Xin thưa rằng không? Bốn bức tường đã được xây cao đến tận trời, và mọi người đều bị nhốt dưới tội lỗi. Không ai tự cứu lấy mình. Chỉ có Chúa từ trên trời là Đấng vô tội, đến thế gian chịu chết đền tội cho chúng ta mà thôi. Để dẫn chứng, ông đọc một câu Kinh Thánh: “Đức Chúa Jêsus đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy”. Đến phần kết luận, ông tiếp tục khuyên thính giả hãy tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của đời mình để được tha.

Sau giờ giảng, chúng tôi cùng ông cụ về nhà ăn cơm tối. Trong bữa ăn, chúng tôi cố tình nhắc lại bài giảng để dọ ý ông cụ thế nào? Ông cụ gật đầu tỏ ý thán phục: “Họ nói phải lắm” “Nghe câu ấy chúng tôi rất mừng rỡ nên hỏi lại: “Thưa, thầy đã nhận là họ nói phải lắm, vậy thầy tưởng có nên làm theo không?” Ông cụ suy nghĩ hồi lâu mới lên tiếng: “Làm theo cách nào?” Chúng tôi trình bày thêm để ông cụ rõ là bất cứ hễ ai tin nhận Đức Chúa Jêsus làm Cứu Chúa thì tội lỗi được tha và linh hồn được cứu. Sau đó, chúng tôi cũng đọc cho ông cụ nghe Lời Chúa phán: “Nếu các ngươi chẳng tin ta là Đấng đó (Đấng đến thế gian cứu người khỏi tội) thì sẽ chết trong tội lỗi các ngươi” (Gi 8:24). Ngài đã nói cách quả quyết cùng mọi người rằng: “Quả thật, quả thật ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống” (Gi 5:24). Đó là một sự kiện chắc chắn, vì “hễ ai tin nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền phép để trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài” (Gi 1:12).

Cụ lại hỏi: “Tin là làm sao?” Chúng tôi giải thích: Tin là lấy lòng thành kính quỳ gối xuống cầu nguyện, nhận mình là người có tội, và bằng lòng tiếp nhận Jêsus Christ làm Cứu Chúa để tội ấy được tha và nhận lãnh sự yêu thương của Đức Chúa Trời. Cụ bằng lòng quỳ gối giữa nhà. Anh tôi là mục sư Lê Văn Long và tôi cầu nguyện cho cụ tin nhận Chúa.

Sau khi cầu nguyện và hát ngợi khen, chúng tôi nhìn thấy nét mặt cụ rạng rỡ và đôi mắt sáng ngời. Cụ muốn nghe nói thêm về Kinh Thánh. Chúng tôi liền phân tích để ông cụ hiểu rõ về câu chuyện thế nào là thờ phượng thật và thế nào là không thật mà Chúa nói với người đàn bà Sa-ma-ri. Chúng tôi nhắc lại câu: “Đức Chúa Trời là thần nên ai thờ lạy Ngài phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy”, để xin cụ cất bỏ bàn thờ trong nhà đi. Cụ tươi cười bảo: “Bây muốn làm gì thì làm”. Chúng tôi hết sức ngợi khen Chúa và bắt tay vào việc ngay. Tất cả những đồ thờ phượng bằng gỗ trên ba bàn thờ lớn giữa ba căn đều được dọn ra ngoài sân. Nội trong đêm đó chúng tôi đập bễ và đốt hết, đến hơn mười hai giờ khuya mới xong. Trở vào nhà chúng tôi rất sung sướng cầu nguyện tạ ơn Chúa. Đó là lần cầu nguyện đầu tiên trong gia đình không bị ngăn trở bởi bàn thờ. Ha-lê-lu-gia!

Đức tin của ông thân chúng tôi ngày càng thêm mạnh mẽ, dù gặp nhiều khó khăn thử thách, nhưng vẫn cứ kiên định cho đến khi về nước Chúa.

Tiếp theo đó, bà kế mẫu chúng tôi cũng tin nhận Chúa qua cơn bạo bệnh. Sau khi đã uống nhiều thuốc của hai ông đông y, bà được đưa vào bệnh viện để được chữa bằng thuốc tây, nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Tất cả mọi người trong gia đình đều thất vọng. Trong khi đó thì chúng tôi âm thầm cầu xin Chúa cứu mẹ chúng tôi. Và quả thật, bởi ơn của Chúa, bà được chữa lành một cách lạ lùng. Do đó bà vui lòng tiếp nhận Chúa. Bởi phép lạ ấy, có mấy người trong họ ngoại chúng tôi cũng thức tỉnh ăn năn. Các chị và các em chúng tôi đều lần lượt trở lại với Chúa và dâng mình hầu việc Ngài, cho đến ngày nay vẫn còn đứng vững trong chức vụ cách đầy ơn. Thật đúng như Lời Chúa phán: “Một người tin cả nhà được cứu”.

Ngôi nhà giảng đầu tiên của HTTLVN thiết lập tại Nà Nùng (Trung Việt) 1913


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.

Nhận Thông Báo Chương Mới

Để biết thông tin các sách mới cập nhật của Ebook Cơ Đốc, bạn hãy điền vào form dưới đây. Chúng tôi sẽ gửi tới bạn ngay khi có ^^

 Thảo Luận